M2 hay CPI: “giá trị đồng tiền” VND nghĩa là gì?
Phân biệt tỷ trọng trong tổng lượng tiền và sức mua tiêu dùng qua ví dụ tính toán, cùng các bước kiểm tra dữ liệu VND.
Đọc thêm →Giải thích cung tiền, giá cả và tỷ giá, kèm nguồn và công cụ tính.
Phân biệt tỷ trọng trong tổng lượng tiền và sức mua tiêu dùng qua ví dụ tính toán, cùng các bước kiểm tra dữ liệu VND.
Đọc thêm →IMF hiện dự báo GDP Việt Nam 2026 tăng 8,4%, từ mức 5,6% hồi tháng 9/2025. World Bank nâng từ 6,1% lên 7,4%, ADB từ 7,2% lên 7,8%, còn mục tiêu của Quốc hội là từ 10% trở lên. Lịch sử điều chỉnh, tăng trưởng thực tế từng quý và bài học từ Hàn Quốc.
Đọc thêm →GDP quý III/2026 tăng 9,95%, nhưng tỷ giá thương mại hàng hóa gần như đi ngang (−0,04%) và giảm 0,17% trong 9 tháng. Việt Nam không công bố GDI thực theo quý; bài này dùng chỉ số giá xuất nhập khẩu, GNI và thu nhập người lao động để xem tăng trưởng sản lượng chuyển thành thu nhập đến đâu, và so sánh với Hàn Quốc.
Đọc thêm →Lãi suất đầu tư bình quân của Quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam giai đoạn 2016–2025 tương đương 5,22%/năm: 100 triệu đồng thành khoảng 166 triệu, trong khi giá cả tăng 1,36 lần. Năm nào cũng cao hơn lạm phát, nhưng mức chênh giảm từ hơn 3,7 điểm phần trăm xuống 0,41 điểm năm 2025. Đây là quỹ hưu trí xác định lợi ích, không phải tài khoản cá nhân.
Đọc thêm →Gạo Thái 5% của Ngân hàng Thế giới tháng 6/2026 tương đương 12.433 đồng/kg, hạng 26 trong 317 tháng từ năm 2000. Gạo Việt 5% tháng 9/2026 là 418,5 USD/tấn. Trong khi đó giá gạo trong nước tháng 9 giảm 0,06% và xuất khẩu 9 tháng đạt 6,4 triệu tấn.
Đọc thêm →Vàng thế giới giảm khoảng 26% từ kỷ lục ngày 29/1/2026. Tính bằng tiền đồng, bình quân tháng 6/2026 thấp hơn đỉnh tháng 2 là 15,4% vì tỷ giá gần như đứng yên. Vàng miếng SJC giảm từ 191,3 xuống 143,1 triệu đồng/lượng, vẫn cao hơn giá thế giới quy đổi khoảng 12–13 triệu.
Đọc thêm →CPI tháng 9/2026 của Việt Nam tăng 5,08% so với cùng kỳ, cao hơn Mỹ 3,7%; lạm phát cơ bản 4,45% so với 2,6%. Xăng dầu, giao thông và học phí là nguyên nhân chính. Vì sao CapsWindow không so được chuỗi dài từ năm 2020, và tỷ giá VND/USD đi ra sao.
Đọc thêm →Lợi suất 10 năm của Pháp lên 4,79% ngày 16/10/2026, cao hơn cả Ý. Đặt cạnh Việt Nam theo cùng thước đo IMF: nợ 28,3% GDP, tăng trưởng 8,4%, lợi suất 10 năm 4,455%, xếp hạng BB+/Ba2. Vì sao xếp hạng tín nhiệm và lợi suất không đi cùng nhau.
Đọc thêm →MSCI chia thị trường thành phát triển, mới nổi, cận biên và độc lập theo ba nhóm tiêu chí. Việt Nam chiếm 30,94% chỉ số MSCI cận biên, đã được FTSE nâng hạng từ 21/9/2026, còn Indonesia vừa bị đề xuất hạ xuống thị trường độc lập. Điều đó có ý nghĩa gì với chứng khoán và tỷ giá?
Đọc thêm →Lãi suất tái cấp vốn 4,50% của Ngân hàng Nhà nước đang cao hơn cận trên lãi suất Fed (4,00%) 50 điểm cơ bản. Chênh lệch từ 2019 đến nay, lãi suất thực, lịch FOMC 27–28/10/2026 và vì sao con số này không quyết định tỷ giá USD/VND.
Đọc thêm →Quy đổi giá dầu Brent bình quân tháng ra VND: tháng 4/2026 khoảng 3,02 triệu đồng một thùng, cao nhất trong 318 tháng từ năm 2000, dù tính bằng USD vẫn thấp hơn đỉnh 7/2008. Tỷ giá đóng góp bao nhiêu, và giá xăng, CPI đã tăng đến đâu?
Đọc thêm →Bốn tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ dự kiến chi khoảng 720–745 tỷ USD cho đầu tư năm 2026. Lợi suất thực 10 năm của Mỹ tăng 97 điểm cơ bản, trong khi lạm phát kỳ vọng chỉ tăng 11. Việt Nam nhận tác động qua xuất khẩu điện tử và chi phí linh kiện.
Đọc thêm →Năm 2026, lợi suất 10 năm của Mỹ, Anh, Đức và Nhật lên mức cao nhất trong 15 đến 30 năm. Lợi suất 10 năm Việt Nam 4,46%, cao nhất từ 1/2023 nhưng chỉ tăng 48 điểm cơ bản kể từ cuối năm 2025.
Đọc thêm →Carry trade đồng yên là vay yên lãi thấp để mua tài sản lãi cao hơn. Ngày 5/8/2024, khi giao dịch này đảo chiều, Nikkei giảm 12,4% và VN-Index giảm 3,92%. Năm 2026 lợi suất Nhật đã vượt 3%.
Đọc thêm →Lợi suất 10 năm của Việt Nam thấp hơn Mỹ liên tục từ tháng 4/2023, lần đầu kể từ năm 2006. Tháng 9/2026 chênh lệch là −53 điểm cơ bản, nhưng tỷ giá USD/VND không đi theo một quy luật đơn giản.
Đọc thêm →Chênh lệch lợi suất 10 năm và 2 năm của Việt Nam là 82 điểm cơ bản (9/2026), dưới mức trung bình 113. Đường cong từng đảo ngược năm 2008 và 2011–2012, nhưng sau đó kinh tế chỉ chậm lại.
Đọc thêm →Lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm của Việt Nam bình quân tháng 9/2026 là 4,46%, cao nhất kể từ tháng 1/2023, nhưng chỉ xếp thứ 159 trong 243 tháng kể từ năm 2006.
Đọc thêm →S&P 500 tăng 23,6% tính bằng USD từ 6/2025 đến 6/2026 và 24,3% khi quy đổi ra VND, vì tỷ giá VND/USD bình quân tháng chỉ tăng 0,6%. Công thức, ví dụ 100 triệu đồng, cơ chế tỷ giá trung tâm ±5% và quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của cá nhân.
Đọc thêm →Trong bốn quý từ quý II/2025 đến quý I/2026, cán cân vãng lai của Việt Nam thặng dư khoảng 31,5 tỷ USD nhưng khoản mục lỗi và sai sót âm khoảng 29,7 tỷ USD. Đọc cán cân thanh toán của NHNN để hiểu vì sao VND vẫn sát trần biên độ, và vì sao năm 2026 nhập siêu mà tỷ giá lại ổn định.
Đọc thêm →Lạm phát chip nhớ là việc giá thiết bị tăng vì AI hút chip nhớ. iPhone 17 256GB ở Apple Store lên 29 triệu đồng, nhưng CPI thông tin và truyền thông chỉ +0,50%.
Đọc thêm →Lãi suất điều hành của Việt Nam không đổi từ tháng 6/2023. Theo các ước tính độ trễ đã công bố, hiện không có đợt thay đổi nào đang truyền dẫn tới người vay.
Đọc thêm →Fed nâng lãi suất ngày 16/9/2026, nhưng tốc độ tăng M2 của Mỹ lại đi từ 4,04% lên 5,41%. Một lần nâng lãi suất tác động lên lượng tiền theo hai chiều ngược nhau, và quy mô nợ quyết định chiều nào mạnh hơn.
Đọc thêm →Lợi suất trái phiếu 10 năm của Việt Nam là 4,57% trong khi lãi suất tái cấp vốn là 4,50%, chênh lệch chỉ 7 điểm cơ bản — mức hẹp nhất trong số các thị trường có chênh lệch dương.
Đọc thêm →Xuất khẩu dịch vụ du lịch đạt 15.220 triệu USD năm 2025, tăng 28,7% so với 2019. Chi tiêu bình quân một lượt khách quốc tế là 1.164,8 USD năm 2024, tăng 1,1% so với 2019, nhưng quy ra tiền đồng là 6,0%.
Đọc thêm →Việt Nam không lập bảng cân đối tài sản tài chính của hộ gia đình, nên không có tỷ lệ chính thức nào cho biết hộ gia đình giữ bao nhiêu phần trăm tài sản dưới dạng tiền gửi. Thứ duy nhất được công bố là số dư tiền gửi dân cư tại một thời điểm.
Đọc thêm →Trong chín thị trường châu Á được so sánh ở đây, Việt Nam là nơi tỷ trọng tiền mặt giảm mạnh nhất. Đài Loan, Hong Kong và Malaysia đi ngược lại. Bài viết cũng nói rõ vì sao con số này chỉ tra được trong báo cáo của IMF chứ không phải trên trang của Ngân hàng Nhà nước.
Đọc thêm →Tám thị trường châu Á trong loạt bài này đều công bố dự trữ theo tháng. Việt Nam thì không. Bài viết trình bày con số duy nhất có thể dẫn nguồn, chỉ rõ những gì không thể tính được, và giải thích vì sao khoảng trống đó quan trọng.
Đọc thêm →Trong khủng hoảng 1997, tiền đồng mất giá 20,3% nhưng phải mất ba mươi tháng. Bài viết so sánh biên độ, tốc độ và thời gian phục hồi của năm giai đoạn bằng cùng một chuỗi tỷ giá bình quân tháng, và cho thấy đặc điểm của thị trường này là tính nhất quán của hướng đi chứ không phải độ lớn của cú sốc.
Đọc thêm →Lãi suất chính sách không hạ giá một cách trực tiếp mà truyền dẫn qua tín dụng và cung tiền. Lần theo con đường đó, rồi đọc những giai đoạn cung tiền Mỹ sụt giảm trong khi giá tiêu dùng vẫn tăng.
Đọc thêm →Giá tăng làm tài sản danh nghĩa mất sức mua và đồng thời làm nhẹ gánh nặng thực của nợ danh nghĩa. Áp phép tính đó lên nợ chính phủ Việt Nam 3.725.645 tỷ đồng, và nói rõ những gì dữ liệu hiện có chưa trả lời được.
Đọc thêm →Số tiền bảo hiểm, niên kim cố định và giá trị đáo hạn được bảo đảm ấn định một con số, không phải một giá trị. Đây là những gì 2001-12 → 2019-02 của giá tiêu dùng đã làm với khoản 1.000.000.000 ₫ tại Việt Nam, và những gì dữ liệu hiện có chưa bao phủ.
Đọc thêm →Cung tiền M2 của Mỹ tăng từ 4.666,1 lên 23.218,0 tỷ USD, nhưng vàng từng mất 80,6% giá trị thực suốt hai thập niên. Chế độ lãi suất mới quyết định tài sản nào thắng.
Đọc thêm →Cước vận tải biển, công suất lọc dầu, lạm phát, lợi suất trái phiếu và tỷ giá. Lần theo cú sốc năng lượng 2026 qua năm bước có thể kiểm chứng, kèm giới hạn của từng bước.
Đọc thêm →Theo dõi ba bước đổi VND sang USD, áp dụng tỷ lệ chỉ số Mỹ rồi đổi ngược; hiểu chiều yết giá và giới hạn phép tính.
Đọc thêm →Hiểu mô hình M2 theo đồng hồ, tháng tham chiếu, giả định tăng trưởng năm và khác biệt với số liệu công bố.
Đọc thêm →